Tuần 1



Thai nhi của bạn vẫn chỉ là một túi nhỏ gồm nhiều tế bào được gọi là túi phôi, khối tế bào bên trong sẽ phát triển thành phôi thai, khối tế bào bên ngoài sẽ tạo thành nhau thai giúp mang oxy duy trì sự sống, chất dinh dưỡng cho bé và lấy đi các chất thải. Sau đó, khối tế bào này (phôi thai) sẽ dần di chuyển từ từ vào trong tử cung và tìm một vị trí thích hợp để làm tổ từ tuần thứ hai đến suốt thời kỳ mang thai.

Sự phát triển của thai nhi tuần thứ 1 - Hành trình 40 tuần bắt đầu

Tuần này thai nhi vẫn chưa được hình thành nhưng đây vẫn được tính là một phần của quá trình mang thai. Tuần đầu tiên của thai kỳ thực chất là tuần nguyệt san của mẹ. Ngày dự sinh thường sẽ được tính là 40 tuần kể từ ngày đầu tiên của chu kỳ kinh cuối. Tuy nhiên ở một số phụ nữ sinh muộn, thai kỳ có thể kéo dài đến 42 tuần.

Mẹ thiếu máu

Uể oải, ngủ vật vờ và đuối sức là những biểu hiện của chứng thiếu máu ở các mẹ bầu. Khi rơi vào tình trạng này này, mẹ sẽ gặp khó khăn kể cả với những việc đơn giản nhất và chỉ muốn được nghỉ ngơi cả ngày. Một số dấu hiệu mẹ cần chú ý như: Mệt mỏi, xanh xao, nhợt nhạt, hồi hộp, đau ngực, nhức đầu, hơi thở ngắn, mạch đập nhanh, khó tập trung, cảm giác tê hoặc lạnh ở tay, thân nhiệt thấp, khó chịu…

Mẹ nhiễm HIV/AIDS

Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới, cứ khoảng 100 trẻ sinh ra từ người mẹ nhiễm HIV mà không được chăm sóc, điều trị thích hợp, không được dùng thuốc kháng HIV để phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con thì trung bình có thể có tới 30-45 trẻ bị nhiễm. Trong khi đó, nếu được phát hiện sớm và điều trị thích hợp, trong số 100 trẻ sinh ra, có thể chỉ có từ 3-5 trẻ nhiễm HIV từ mẹ hoặc thậm chí còn ít hơn nữa.

Mẹ bị ung thư

Ung thư trong thời kỳ mang thai ở phụ nữ là khá hiếm gặp. Một số loại ung thư mà phụ nữ thường mắc phải khi mang thai là ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư hạch, ung thư tuyến giáp… Mắc ung thư trong khi đang mang thai không chỉ gây ảnh hưởng nhất định đến thai nhi mà còn có tác động đến quá trình điều trị ung thư của người mẹ.

Mẹ thuộc nhóm máu RH âm

Có 6 gen chính quy định nhóm máu rhesus tạo thành 3 cặp alen nằm trên mỗi nhánh của một cặp nhiễm sắc thể: 3 gen C, D, E là 3 gen trội và c, d, và e là các gen lặn. Trong đó, nhóm máu Rh là gen trội D chiếm 95% các trường hợp bất tương hợp nhóm máu. Bất đồng nhóm máu Rhesus xảy ra khi nhóm máu mẹ là rhesus âm, trong khi máu thai nhi trong bụng mẹ lại là rhesus dương.